Bitcoin: Đồng tiền vô chính phủ – Phần 1: Lịch sử tiền tệ kỹ thuật số

Bitcoin đã làm thế nào để bảo vệ tính riêng tư của người dùng trong các giao dịch điện tử.

Bài viết được chia làm 3 phần:


Chẳng có gì giống như một tờ giấy bạc trả công cho một vũ nữ thoát y. Một đồng tiền vô danh, nhưng vẫn rất cá nhân – cho dù nó được sử dụng ở bất cứ nơi nào, sẽ là phương thức thanh toán phù hợp trong trường hợp này. Các tay cung cấp nội dung người lớn trên Internet sau nhiều năm tìm cách tránh né lệ phí thẻ tín dụng, hoặc là cung cấp nội dung một cách miễn phí, gần đây đã tìm thấy loại tiền cho mình – một dạng tiền tệ kỹ thuật số mới được gọi là Bitcoin.

Bạn nhìn là sẽ nhận ra ngay (các vũ nữ thoát y nhận tiền boa bằng bitcoin sẽ in địa chỉ tài khoản ngay trên cơ thể mình.) Và quan trọng hơn, nếu chúng ta trả bằng bitcoin, chúng ta chẳng cần phải cho ai biết cả. Bitcoin được chuyển qua lại giữa các tài khoản mà không có ngân hàng, công ty thẻ tín dụng, hay bất kỳ một cơ quan nào biết ai đang trả cho ai. Thay vào đó, Bitcoin hoạt động dựa vào một mạng ngang hàng (peer-to-peer) và mạng này không quan tâm bạn là ai hay bạn mua gì. Về lâu dài, một hệ thống như thế này, với khả năng phục hồi tính riêng tư cho việc thanh toán điện tử, có thể làm được nhiều việc hơn là che mắt những kẻ tọc mạch. Nếu lượng người tham gia đủ nhiều, Bitcoin hay một hệ thống tương tự sẽ tạo ra một kênh mới để những tổ chức chính trị đối lập nhận tiền ủng hộ và những nhóm tội phạm rửa tiền làm các cơ quan giám sát tài chính truyền thống phải đau đầu.

Có thể bạn đã từng nghe đến tên Bitcoin vào năm ngoái [nghĩa là năm 2011, so với thời điểm bài báo nào được viết] khi mà tiền tệ kỹ thuật số là tâm điểm của giới truyền thông trong một thời gian ngắn và giới đầu cơ ào ạt mua vào với hy vọng Bitcoin lên giá. Hay cũng có thể bạn đã nghe về vụ các tay tin tặc phá két của những sàn giao dịch bitcoin trực tuyến lớn nhất, trùng hợp với việc giá của bitcoin lao dốc. Kể từ tháng 1/2012, bitcoin đã ổn định trở lại và có tỷ giá vào khoảng 5 USD.

Giấc mơ về một loại tiền tệ kỹ thuật số độc lập và ẩn danh – một loại tiền đảm bảo tính riêng tư của người mua và người bán – đã có từ trước Bitcon khá lâu. Mặc cho các tạp chí như Forbes, Wired, và The Atlantic đã có các bài viết về sự cáo chung của loại tiền tệ này, giấc mơ đó vẫn còn lâu mới chấm dứt.

Quá trình theo đuổi một loại tiền tệ kỹ thuật số độc lập thực sự bắt đầu năm 1992 khi Timothy May, một nhà vật lý học đã nghỉ hưu của Intel, mời một nhóm bạn đến nhà của ông ở ngoại ô Santa Cruz, California, để nói chuyện về tính riêng tư trong thời đại Internet. Trong thập kỷ trước đó, các công cụ mã hoá, như kỹ thuật mã hoá với khoá chung (public-key encryption) của Whifield Diffie và phần mềm Pretty Good Privacy (PGP) của Phil Zimmermann, đã chứng tỏ tính hữu ích của chúng trong việc kiểm soát khả năng truy cập vào các thông điệp số. Lo sợ trước việc đột nhiên mất đi khả năng kiểm soát thông tin, chính phủ các nước trên khắp thế giới đã bắt đầu đe doạ sẽ giới hạn việc sử dụng các phương pháp mã hoá như vậy.

May và các vị khách mời tìm kiếm những điều mà các chính phủ đó e ngại. “Cũng tương tự như việc công nghệ in ấn đã thay đổi và làm suy yếu quyền lực của các phường hội và cấu trúc quyền lực xã hội ở thời Trung cổ, các phương pháp mã hoá cũng sẽ thay đổi bản chất của các tập đoàn và sự can thiệp của chính phủ vào các giao dịch kinh tế,” May nói. Cuối buổi thảo luận, cái tên “cypherpunks” (tạm dịch là: những tay chơi mật mã) được chọn làm tên nhóm và nhiệm vụ nhóm của nhóm, kiểu như nhiệm vụ của một siêu anh hùng, là bảo vệ quyền riêng tư trên toàn cõi thế giới số. Chỉ trong vòng 1 tuần, đồng sáng lập Eric Hughes của nhóm đã viết một chương trình có thể nhận các e-mail đã được mã hoá, rồi loại bỏ đi tất cả các thông tin định danh, sau đó gửi chúng đến một nhóm những người tham gia. Khi một người nào đó đăng ký gia nhập, họ sẽ nhận được một thông điệp từ Hughes:

“Cypherpunks cho rằng tính riêng tư là một điều tốt đẹp và muốn rằng tính riêng tư hiện hữu nhiều hơn nữa. Cypherpunks nhận ra rằng những người muốn sở hữu quyền riêng tư phải tự tạo ra nó cho bản thân mình chứ không thể trông đợi các chính quyền, các tập đoàn, hay các tổ chức vô cá tính lớn khác ban bố cho họ quyền riêng tư như một kiểu làm từ thiện.”

Hughes và May hiểu rõ rằng các hành vi về tài chính tiết lộ về chúng ta cũng nhiều như, nếu không phải là nhiều hơn cả những gì chúng ta nói. Nhưng ngoại trừ cách dùng tiền mặt trong cách giao dịch hay là dùng hàng đổi hàng thì chẳng có kiểu giao dịch nào khác có được tính riêng tư cả. Chúng ta dựa vào ngân hàng, các công ty thẻ tín dụng, hay các tổ chức trung gian khác để vận hành hệ thống tài chính của chúng ta. Liệu các tổ chức đó có lưu lại và thậm chí chia sẻ với ai đó một hồ sơ về thói quen chi tiêu của chúng ta hay không? Ngay cả việc dùng tiền mặt cũng cần phải có sự tin tưởng là đồng bạc đó sẽ giữ được giá trị của nó. Liệu chính quyền sẽ in quá nhiều hay quá ít tiền? Nhiều thành viên của Cypherpunks cho rằng cách duy nhất để giải quyết các vấn đề này là xây dựng một hệ thống hoàn toàn mới.

Dần dần, sự mất niềm tin của họ phát triển thành một triết lý vô chính phủ. Hầu hết đều đơn giản muốn rằng họ có thể mua đồ mà chẳng có ai nhòm ngó. Nhưng một số người trong danh sách thảo luận qua e-mail muốn giải phóng tiền tệ ra khỏi sự kiểm soát của chính phủ và dùng nó để trừng phạt lại những kẻ mà họ cho là đã áp bức họ.

Jim Bell, từng là kỹ sư làm việc cho Intel, đã đưa những ý tưởng này đi xa hơn bất cứ ai khác bằng việc đưa thế giới vào một thí nghiệm tưởng tượng ghê rợn được gọi là chợ mưu sát. Các công dân cần có một biện pháp hiệu quả để trừng phạt những chính trị gia đã hành động ngược với mong muốn của những người đã uỷ thác cho họ, Jim Bell lý luận, và có sự trừng phạt nào tốt hơn là cái chết? Sử dụng một đồng tiền kỹ thuật số nặc danh, Bell tranh luận, ta có thể gom tiền tài trợ từ những người bất bình lại thành một khoản tiền thưởng [cho việc trừng phạt những chính trị gia đó – người dịch]. Nếu một chính trị gia làm quá nhiều người tức giận, chẳng sớm thì muộn, khoản tiền thưởng kia sẽ tống hắn ra khỏi chỗ làm hay giết chết hắn. Bài viết “Assassination Politics,” (tạm dịch là “Chính trị giết chóc”) của Jim Bell cuối cùng cũng bị các đặc vụ liên bang lưu tâm. Jim Bell bị xét xử lòng vòng qua hệ thống toà án của Mĩ từ năm 1997 sau khi bị bắt trong một cuộc vây ráp của IRS (Internal Revenue Service) cho đến khi được thả khỏi tù tháng 3/2012.

Trong khi những thành viên Cypherpunks như Bell mơ tưởng về những cách sử dụng đồng tiền kỹ thuật số, một số khác lại tập trung giải quyết các trở ngại kỹ thuật. Wei Dai tạo ra b-money vào năm 1998 khi ông vừa mới tốt nghiệp trường Đại học Washington (University of Washington) với tấm bằng chuyên ngành khoa học máy tính. “Động cơ thúc đẩy tôi tạo ra b-money là nhằm tạo ra một nền kinh tế trực tuyến không bị đánh thuế hay điều chỉnh bằng cách đe doạ sử dụng bạo lực,” Dai nói. Nhưng b-money là một dự án hoàn toàn mang tính cá nhân, mang nặng tính ý tưởng hơn là thực tế.

Vào cùng khoảng thời gian đó, Nick Szabo, một nhà khoa học máy tính hiện đang viết blog về luật và lịch sử tiền tệ, là một trong những người đầu tiên suy nghĩ về một loại tiền tệ kỹ thuật số mới từ tận gốc rễ. Mặc dù nhiều người coi mô hình của ông, được ông gọi là “bit gold”, là tiền thân của Bitcoin, tính riêng tư không phải là thứ mà ông nghĩ đến trước nhất. Mục đích chính của ông là biến các con số 0 và 1 thành cái gì đó mà người ta thấy có giá trị. “Tôi bắt đầu với suy nghĩ về sự tương tự giữa các bài toán khó với việc khai thác vàng,” ông nói. Nếu một bài toán yêu cầu chúng ta phải bỏ thời gian và sức lực để giải nó thì nó có thể được xem là có một giá trị, Szabo lý luận. Lời giải khi đó có thể được đưa cho ai đó như một đồng tiền kỹ thuật số.

Trong mô hình “bit gold” của Szabo, một người tham gia sẽ sử dụng máy tính của mình để giải các bài toán mã hoá mà hệ thống giao cho. “Bất cứ thứ gì có thể sử dụng như một bằng chứng về sự tham gia làm việc, nghĩa là có thể tạo ra một chuỗi nhị phân mà chuỗi đó có thể được chứng minh là cần có một hoạt động tính toán để tạo ra nó, đều có thể dùng được,” Szabo cho biết. Trong một mạng “bit gold”, các bài toán được giải xong sẽ được gửi đến cả cộng đồng, và nếu được chấp nhận thì công sức làm việc sẽ được ghi nhận cho người đã giải nó. Mỗi lời giải sẽ trở thành một phần của bài toán kế tiếp, tạo thành một chuỗi thuộc tính ngày càng dài hơn. Đặc điểm này tạo ra một cách hiệu quả để xác thực và đánh dấu thời điểm ra đời của các đồng xu mới, bởi vì trừ khi đa số những người tham gia đồng ý chấp nhận các lời giải mới thì họ không thể bắt đầu bài toán kế tiếp.

Khi thiết kế các giao dịch cho đồng tiền kỹ thuật số ta gặp phải vấn đề một đồng tiền bị gian lận để xài 2 lần, hoặc hơn (double-spending). Một khi dữ liệu đã được tạo ra thì việc tạo ra chúng một hay nhiều lần nữa cũng đơn giản chỉ là chép và dán. Hầu hết các mô hình tiền điện tử giải quyết vấn đề này bằng cách trao một phần quyền điều khiển cho một tổ chức trung tâm nơi theo dõi số dư của mỗi tài khoản. DigiCash, một dạng tiền kỹ thuật số sơ khai hoạt động trên nền tảng mã hoá mà David Chaum là người tiên phong phát triển, giao việc giám sát này cho các ngân hàng. Szabo không chấp nhận giải pháp này. “Tôi cố gắng bắt chước để trong không gian ảo bit gold cũng có được tính đảm bảo và tin cậy giống như vàng và điều quan trọng nhất trong đó là nó không phụ thuộc vào một tổ chức trung tâm được uỷ quyền,” ông nói. Bit gold đã chứng minh rằng ta có thể biến lời giải cho các vấn đề tính toán phức tạp thành tài sản theo một cách phi chính phủ. Nhưng mà tài sản thì cũng chưa phải là tiền mặt, và phương án này vẫn còn có nhiều vấn đề chưa giải quyết được. Làm thế nào mà ta có thể gán các giá trị [ở đây là giá trị về mặt tài chính – người dịch] thích hợp cho các chuỗi dữ liệu khác nhau nếu việc tạo ra chúng cũng khó khăn khác nhau? Làm thế nào để khuyến khích mọi người thừa nhận giá trị này và chấp nhận sử dụng đồng tiền này? Và hệ thống kiểm soát việc chuyển tiền giữa mọi người sẽ như thế nào?

Sau khi b-money và bit gold không thể tìm được đủ sự ủng hộ, đề tài tiền kỹ thuật số trở nên khá im ắng. Rồi sau đó, năm 2008, một nhân vật bí ẩn viết bài dưới cái tên “Satoshi Nakamoto” đã đề xuất ra Bitcoin. Cũng thật là phù hợp cho người tạo ra một đồng tiền kỹ thuật số riêng tư, danh tính thật của Nakamoto đến giờ vẫn còn là một điều bí ẩn. “Tôi chưa nghe nói đến một ai đã từng biết đến cái tên đó trước kia,” Szabo nói. “Và tôi cũng sẽ không tìm hiểu xem liệu anh ta có thể hay không thể là ai.”

(Xem tiếp Phần 2: “Thợ mỏ” và công cuộc “khai thác mỏ”Phần 3: Đồng tiền nào cũng có hai mặt)


Advertisements

One comment

  1. Pingback: Bitcoin: Đồng tiền vô chính phủ – Phần 1: Lịch sử tiền tệ kỹ thuật số | Phamlinhngoc's Blog

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: